Lá Chè Dây là lá đã phơi sấy khô của cây Chè dây [Ampelopsis cantoniensis (Hook. et Am.) Planch.], thuộc họ Nho (Vitaceae). Trên thế giới, cây phân bố ở Campuchia, Trung Quốc Nam-Trung Bộ, Trung Quốc Đông Nam Bộ, Hải Nam, Nhật Bản, Lào, Malaya, Nansei-shoto, Đài Loan, Thái Lan. Ở Việt Nam cây có ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai, Nghệ An, Lâm Đồng và Đồng Nai. Cây được sử dụng lá nấu nước uống thay chè, chiết ra dạng cao khô dùng chữa loét dạ dày tá tràng. Tài liệu Trung Quốc dùng chè dây chữa viêm kết mạc cấp tính, viêm gan thế hoàng đản, cảm mạo phong nhiệt, viêm họng, mụn nhọt. Dùng toàn cây ngày 15 - 60g sắc uống. Dùng ngoài, lấy cây tươi, đun sôi, xông, chữa viêm kết mạc cấp. Theo y học cổ truyền, cây có tác dụng trị đau dạ dày, tá tràng; viêm đại tràng; chậm liền sẹo. Trong cây có chứa flavonoid với hàm lượng là 18.15%, tanin, đường, không có alcaloid và saponin.
I. Thông tin về dược liệu
- Dược liệu tiếng Việt: Chè Dây - Lá
- Dược liệu tiếng Trung: ? (?)
- Dược liệu tiếng Anh: Folium Ampelopsis
- Dược liệu latin thông dụng: Folium Ampelopsis
- Dược liệu latin kiểu DĐVN: Herba Epimedii
- Dược liệu latin kiểu DĐVN: nan
- Dược liệu latin kiểu thông tư: nan
- Bộ phận dùng: Lá (Folium)
Theo dược điển Việt nam V: Lá khô thường nhàu nát, khi dàn phẳng có hình trái xoan hoặc hình mũi mác, dài 2,5 cm đến 7,5 cm, phía cuống tù hay hơi tròn, đầu lá nhọn, mép có ít răng cưa. Mặt trên màu lục xám, có những vết trắng loang lổ trông như mốc, mặt dưới màu nhạt hơn. Cuống lá nhẵn, dài 3 mm đến 12 mm. Thể nhẹ, chất giòn, dễ gãy nát, mùi thơm, vị đắng sau hơi ngọt nhẹ.
Mô tả dược liệu theo thông tư chế biến dược liệu theo phương pháp cổ truyền: nan
Chế biến theo dược điển việt nam V: Thu hái lá, loại bỏ lá sâu, già úa, phơi khô
Chế biến theo thông tư: nan
II. Thông tin về thực vật
Dược liệu Chè Dây - Lá từ bộ phận Lá từ loài Ampelopsis cantoniensis.
Mô tả thực vật: Cây leo. Thân và cành cứng, hình trụ, có lông nhỏ. Tua cuốn chẻ đôi, mọc đối diện với lá. Lá kép lông chim, mọc so le, có 7 - 13 lá chét có cuống, hình trái xoan, dài 2,5 - 7,5 cm, rộng 1,5 - 5 cm, gốc tròn, đầu nhọn, mép có ít răng cưa, nhăn, mặt trên lá khi khô có những vết trắng loang lổ như bị nấm mốc, mặt dưới rất nhạt, lá kèm khô xác. Cụm hoa mọc đối diện với lá thành ngù phân nhiều nhánh, rộng 3 - 6 cm; hoa nhiều màu trắng, dài hình chén, có lông mịn, 5 răng ngắn, tràng có 5 cánh, mép hơi nhân, nhị 5, chỉ nhị mành; bấu hình nón, nhân, có 2 ô, mỗi ô 2 noân. Quả mọng khi chín màu den; hạt 3-4, thót lại ở gốc.
Tài liệu tham khảo: Tài liệu khác Trong dược điển Việt nam, loài Ampelopsis cantoniensis được sử dụng làm dược liệu. Chưa có thông tin về loài này trên gibf
III. Thành phần hóa học
Theo tài liệu của GS. Đỗ Tất Lợi: (1) Chè dây chứa flavonoid, tanin, đường, không có alcaloid và saponin, rễ cây chè dây chứa ampelopsin và myricetin. hàm lượng flavonoid toàn phần trong chè dây là 18.15%. Flavonoid tồn tại dưới 2 dạng aglycon và glycosid. Hỗn hợp lavonoid chứa 2 chất myricetin (3, 5, 7, 3, 4, 5’ hexahy droxy flavon) 5,32% và 2, 3 dihydromyricetin 53,83%.
Chưa có nghiên cứu về thành phần hóa học trên cơ sở Lotus
IV. Tác dụng dược lý
Theo tài liệu quốc tế: nan
V. Dược điển Việt Nam V
Soi bột
Bột màu lục xám, soi kính hiển vi thấy: Mảnh phiến lá, có thể mang các mảnh mạch, mảnh biểu bì chứa lỗ khí, lòng che chở đơn bào. Nhiều tinh thể calci oxalat hình kim, rải rác hoặc tập trung thành bó. Các mảnh mạch điểm, mảnh mạch xoắn, tinh thể calci oxalat hình cầu gai, đường kính 30 µm đến 35 µm.
Vi phẫu
Phần gân lá: Gân giữa của lá có mặt trên lôi nhiều (chiều cao phần lồi có thể bằng độ dày của phiến lá), mặt dưới lồi ít. Biểu bì trên và dưới của phần gân lá là một lớp tế bào nhỏ, đều, xếp liên tục đều đặn, mang lông che chở đơn bào, ngán. Mô dày gồm các tế bào thành dày, to nhỏ khác nhau, xếp thành vài lớp nằm sát lớp biểu bì. Các bó libe-gỗ gân chính gồm những bó nhỏ xếp rời nhau, có một bó ở chính giữa phía trên quay phần gỗ về tâm, các bó khác tạo thành vòng cung ở phía dưới, có phần gỗ hướng về tâm. Giữa các bó libe-gỗ có một vùng mô mềm ruột gồm những tế bào thành mỏng. Phần phiến lá: Biểu bì trên và dưới của phiến lá gồm các tế bào nhỏ, xếp liên tục đều đặn thành 1 lớp. Mô giậu gồm 1 lớp tế bào, xếp đứng đều đặn ở sát dưới lớp biểu bì trên. Rải rác trong phiến lá có mạch xoắn, tinh thể calci oxalat hình cầu gai, bó tinh thể calci oxalat hình kim nằm trong khoang màng mỏng.
Định tính
Lấy 0,5 g bột dược liệu, thêm 10 ml ethanol 90 % (TT). Đun trong cách thủy 3 min, lọc, lấy dịch lọc (dung dịch A) cho vào 2 ống nghiệm, mỗi ống 1 ml để làm các phản ứng sau đây: Ống 1: Thêm 5 giọt acid hydrocloric (TT) và một ít bột magnesi (TT), để vài phút, dung dịch dần chuyển từ màu vàng nhạt sang màu đỏ. Ống 2: Thêm 2 giọt dung dịch sắt (III) clorid 5 % (TT), dung dịch có màu xanh. Nhỏ 2 đến 3 giọt dung dịch A lên tờ giấy lọc, để khô, đặt lên miệng lọ amoniac (TT) đã mở nút, thấy màu vàng tăng lên rõ rệt. Phương pháp sắc ký lớp mỏng (Phụ lục 5.4) Bản mỏng: Silica gel G. Dung môi khai triển: Toluen – ethyl acetat – acid formic (5:6:1,5). Dung dịch thử: Dung dịch A. Dung dịch đối chiếu: Hòa tan myricetin chuẩn và dihydromyricetin chuẩn riêng biệt trong methanol (TT) để được dung dịch có chứa 2 mg/ml. Hoặc lấy 0.5 g bột Chè dây (mẫu chuẩn) chiết như mô tả ở phần Dung dịch thử. Cách tiến hành: Chấm riêng biệt lên bản mỏng 8 µl mỗi dung dịch trên. Sau khi triển khai sắc ký, lấy bản mỏng ra, để khô trong không khí ở nhiệt độ phòng, phun hỗn hợp thuốc thử gồm dung dịch acid boric 10 % (TT) và acid oxalic 10% (TT) (2 : 1) và sấy bản mỏng ở 100 °C đến khi các vết hiện rõ. Quan sát dưới ánh sáng thường. Trên sắc ký đồ của dung dịch thử phải có các vết cùng giá trị Rf và màu sắc với vết trên sắc ký đồ của dung dịch đối chiếu.
Định lượng
Phương pháp sắc ký lỏng (Phụ lục 5.3). Pha động-. Acetonitril – dung dịch acidphosphoric 0,01 M (25 : 75) Dung dịch chuẩn. Hòa tan dihydromyricetin chuẩn trong methanol (TT) để thu được dung dịch có nồng độ chính xác khoảng 2 mg/ml Dung dịch thử. Cân chính xác khoảng 0,5 g bột dược liệu (qua rây số 355) vào túi giấy lọc, thêm 50 ml cloroform (TT), ngâm trong 12 h, bỏ dịch chiết cloroform. Làm bay hơi hết cloroform trong bã dược liệu bằng cách đặt trên cách thủy. Chuyển túi giấy lọc vào bình Soxhlet, thêm 120 ml methanol (TT) vào bình chiết, đun sôi trong cách thủy đến khi 1 ml dịch chiết không có màu khi thêm 1 giọt dung dịch natri hydroxyd 10% (TT). Cô dịch chiết methanol đến gần cạn, để nguội, chuyển vào bình định mức 50 ml, thêm methanol (TT) đến vạch, lắc đều. Lấy chính xác 2 ml dịch chiết cho chảy qua cột chiết xuất pha rắn được nhồi pha tĩnh c đã hoạt hóa với tốc độ 15 giọt/min. Hứng dịch chiết vào bình định mức 20 ml, rửa giải bằng methanol 50 % (TT) với tốc độ 15 giọt/phút, hứng lấy khoảng 17 ml dịch chiết, thêm methanol 50 % (TT) vừa đủ 20 ml, lắc đều, lọc qua màng lọc cỡ lỗ lọc 0,45 µm. Điều kiện sắc ký: Cột kích thước (25 cm X 4 mm) được nhồi pha tĩnh c (5 (µm) (Lichrosorb RP 18). Detector quang phổ tử ngoại đặt ở bước sóng 260 nm. Tốc độ dòng: 1 ml/min. Thể tích tiêm: 20 pl. Cách tiến hành: Tiến hành sắc ký với dung dịch chuẩn, dung dịch thử. Dựa vào diện tích (hay chiều cao) pic thu được của dung dịch thử, dung dịch chuẩn và nồng độ dihydromyricetin (C15H1208) của dung dịch chuẩn, tính hàm lượng dihydromyricetin (C15H1208) trong dược liệu. Dược liệu phải chứa ít nhất 18,0 % dihydromyricetin (C15H1208) tính theo dược liệu khô kiệt.
Thông tin khác
- Độ ẩm: Không quá 13,0 % (Phụ lục 9.6, 1 g, 100 °C, 4 h).
- Bảo quản: nan
VI. Dược điển Hồng kong
VII. Y dược học cổ truyền
Tên vị thuốc: Chè dây
Tính: Cam
Vị: Khổ lương
Quy kinh: Tỳ, Vị
Công năng chủ trị: Tiêu viêm chỉ thống, giải độc sinh cơ.Chủ trị: Đau dạ dày, tá tràng; viêm đại tràng; chậm liền sẹo.
Phân loại theo thông tư: nan
Tác dụng theo y dược cổ truyền: nan
Chú ý: nan
Kiêng kỵ: nan